USD tăng giá, “lãi suất cho vay càng phải giảm”

TS. Võ Trí Thành, Phó viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM), cho biết lần trước tiên trong 12 năm, 1 Euro bằng 1 USD. Việc đồng USD lên giá không phải là điều quá thình lình và đã được dự liệu từ trước khi Mỹ ngừng nới lỏng gói định lượng QE3 từ tháng 10/2014 do nền kinh tế này đã tăng trưởng trở lại, thất nghiệp thấp nhất trong 6 năm qua (tính từ khủng hoảng). bên cạnh trưởng thành, Mỹ cũng đang chú ý tăng nhẹ lãi suất vào nửa cuối năm nay.

“Nền kinh tế lớn lên tốt lên sẽ làm môi trường đầu tư của Mỹ trở nên hấp dẫn hơn, dòng vốn vào Mỹ sẽ tăng lên. Từ đó, quan tâm đồng USD cũng sẽ tăng theo. Đây sẽ là nhân tố tác động tới việc USD tăng giá thêm nữa. Điều này sẽ tác động tới kinh tế Việt Nam theo nhiều chiều cạnh”, TS. Võ Trí Thành nhận định.

TS. Võ Trí Thành

Ông nói rõ hơn những tác động bất lợi tới nền kinh tế Việt Nam do sự lên giá của đồng USD?

Khi đồng USD tăng giá, trong khi hiện Việt Nam đang neo tỷ giá vào USD với độ linh hoạt là 2% (vài năm trở lại đây) vẫn chưa đủ cao. do vậy, sự tăng lên của đồng USD sẽ làm cho VND có nguy cơ tiềm ẩn lên giá so với nhiều đồng tiền của các nước đang là đối tác thương mại (những đồng bạc này đang có xu hướng giảm giá so với đồng VND) làm giảm sức cạnh tranh thương phẩm của doanh nghiệp Việt Nam.

Trong chừng mức nào đấy, nó sẽ khuyến khích nhập cảng. vớ nhiên, mức tác động này lớn thế nào còn tùy thuộc vào mức điều chỉnh tỷ giá (nếu có) và mức độ tham gia vào chuỗi giá trị xuất nhập cảng, trung gian đầu vào.

Đồng USD tăng giá cũng sẽ tác động tới dòng vốn vào Việt Nam. cùng với sự tranh đua về môi trường đầu tư, mức độ thoáng mát của thể chế, mức độ mở cửa thì dòng vốn cũng có tính lựa chọn hơn. Ví dụ như dòng vốn đang có khuynh hướng quay lại và đổ vào nước Mỹ. Như vậy, nó có phần tăng thêm sức tranh đua trong việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp…

Du lịch cũng sẽ là chuyên ngành bị ảnh hưởng từ việc tăng giá đồng USD. Rất nhiều nước có tiền bị mất giá lớn hơn so với đồng VND, nên việc du lịch sang Việt Nam sẽ trở nên đắt đỏ hơn.

Trường hợp rõ nhất là đồng Rúp của Nga giai đoạn vừa qua mất giá rất mạnh. Từ mức 30 Rúp ăn 1 USD, giờ lên 55 – 60 Rúp ăn 1 USD. Điều này sẽ ảnh hướng tới dòng khách du lịch từ Nga sang Việt Nam.

Vậy Việt Nam cần phải làm những gì để cắt giảm những tác động từ việc lên giá của đồng USD?

Trong bối cảnh này, để hấp dẫn du lịch, đầu tư thì mình phải dùng đến giải pháp khác để thay cho thủ pháp điều chỉnh tỷ giá. Điều đó có nghĩa là chúng mình phải biến hóa thiết chế, kiếm tìm thị trường, làm cho quá trình mua bán của Việt Nam trở nên rõ ràng, bình thường và tận dụng cơ hội để trong năm nay ký kết nhiều hiệp nghị thương mại tự tiện.

Một yếu tố rất quan trọng đó là cần phải chú ý để nâng cao khả năng tranh đua đối với sản xuất hàng xuất biên, chú ý ở các lĩnh vực khác nhau tùy thuộc vào chừng độ tham dự vào mạng và chuỗi sản xuất. Mỗi chuyên ngành có sự tác động khác nhau và chúng mình có sự hỗ trợ hợp lý, đặc biệt là liên quan đến sinh sản nông nghiệp.

Đối với sách lược tiền tệ thì vẫn phải cố gắng giữ vững kết quả và cải thiện tiếp hậu quả ổn thỏa kinh tế vĩ mô. theo đó, ngân hàng nhà nước cần phải có những xem xét, cân nhắc để có chính sách tiền tệ, tỷ giá linh hoạt hơn để phần nào giảm tải thiếu thốn cho sinh sản kinh doanh, xuất biên, hạn chế nhập khẩu những mặt hàng chưa cần thiết.

thực tế việc tăng giá đồng USD đang tạo áp lực lên tỷ giá. Liệu chính sách tỷ giá năm nay có tính đến tình hình sẽ điều chỉnh vượt “quota” mà ngân hàng quốc gia đã đưa ra hồi đầu năm?

Vài năm trở lại đây, việc ngân hàng nhà nước bình ổn tỷ giá ở mức điều chỉnh 2% đã góp phần hăng hái trong việc ổn thỏa giá trị tiền VND, ổn thỏa kinh tế vĩ mô, kìm giữ lạm phát.

Nhưng trong bối cảnh hiện nay, trước áp lực của đồng USD tăng giá thì chính sách tiền tệ, chính sách tỷ giá đang gặp thiếu thốn nhất định. Một mặt vừa phải duy trì sự ổn định, củng cố lòng tin đối với tiền VND. Mà niềm tin vào VND phụ thuộc vào hai yếu tố rất quan trọng là lạm phát và giảm tiếp lãi suất.

Năm nay vẫn có những thách thức như tăng giá dầu, giá điện, dịch vụ khác, nhưng nói chung có nhiều điều kiện để giữ lạm phát thấp, khoảng dưới mức 5%. Rất nhiều tiên đoán cho thấy lạm phát năm nay của Việt Nam khoảng 4%. Như vậy, đây là yếu tố tốt để linh hoạt chính sách tỷ giá, chính sách tiền tệ để trợ giúp sinh sản mua bán, xuất khẩu.

tuy nhiên, một mặt chúng ta lại muốn giảm tiếp lãi suất tiền VND. Nhưng việc giảm tiếp lãi suất tiền VND thì không chỉ tùy thuộc vào lạm phát mà còn tùy thuộc vào sự tương quan giữa lãi suất tiền VND và đồng USD và mức độ mất giá của VND so với USD.

Mấy năm trở lại đây chúng ta chỉ điều chỉnh 2% tùy không đủ linh hoạt nhưng nó lại đảm bảo được nguyên tắc giữ tiền VND có lợi hơn giữ đồng USD, bởi lãi suất tiền VND cao hơn nhiều so với đồng USD cộng với chừng độ mất giá cao nhất là 2%.

Trước sức ép vừa lãi suất tiền VND, trong khi đồng USD tăng giá thì để giữ được sự cân bằng theo nghĩa có lợi cho tiền VND là khó khăn hơn. Lạm phát thì có lợi nhưng việc giảm lãi suất được nhiều thì không đơn sơ. Cộng với đó là tính linh hoạt cho tiền VND cũng thiếu thốn. Đó là chưa nói ngân hàng quốc gia đã có những cam kết và nếu thay đổi mức điều chỉnh quá 2% thì lòng tin của thị trường đối với tiền VND cũng không thật tốt.

Như vậy, mình cần phải có một cái nhìn dài hơi hơn đối với sách lược tỷ giá. Gắn liền với đó là sách lược tiền tệ, sách lược lãi suất và việc cải tổ lại hệ thống ngân hàng để chính sách tỷ giá trung và thời gian dài sẽ có sự linh hoạt hơn. Để có được nhân tố đó thì cần phải gắn với sự minh bạch phân khúc, những dữ liệu thông báo khác.

Trước mắt, ngân hàng nhà nước đã dùng 1% rồi và có thể thường dùng phần còn lại nhưng vẫn đúng nguyên tắc rõ ràng, trọn vẹn thông tin với thị trường gắn với chắc chắn ổn định kinh tế vĩ mô. Trong hạn độ như vậy, nếu cần, chúng ta thường dùng mức độ linh hoạt hơn chút ít.

Ông có nói đến việc giảm lãi suất là rất khó khăn. Vậy kỳ vọng giảm lãi suất để trợ giúp doanh nghiệp và nền kinh tế vĩ mô có thể thực hiện được không?

Theo tôi thì không còn nhiều. Nhìn vào lạm phát, kỳ vọng hiện nay là 4%, trong khi trần lãi suất là 5,5%. Vì là “trần” nên các bank hoàn toàn có thể linh hoạt điều chỉnh lãi suất theo điều kiện phân khúc. Trên thực tại, hiện cũng có một số ngân hàng giảm nhẹ lãi suất huy động, nhưng để giảm nhiều là rất khó.

Thứ nhất là sự tương quan giữa lãi suất tiền VND và USD, áp lực biến hóa tỷ giá.

Thứ hai với kỳ vọng lạm phát chỉ 4% thì lãi suất có khả năng giảm thêm chút nữa nhưng hiện nay hệ thống ngân hàng đang vận hành dựa vào tiền gửi. cho nên điều chỉnh lãi suất còn phải tính đến sự dịch chuyển của dòng tiền và lợi tức có thể đem đến được nếu họ chuyển tiền ấy sang tài sản khác như BDS, chứng khoán, cổ phiếu, trái phiếu, USD.

Một kết quả quan trọng bây giờ đó là làm sao cho tín dụng thoáng mát hơn. hoàn cảnh tiên quyết cho vấn đề này là sự hồi phục của nền kinh tế và hạ được lãi suất vốn vay trung và dài hạn. Hiện lãi suất vốn vay trung và thời gian dài khá cao gây hại đến đầu tư, sinh sản của công ty.

Xin đa tạ ông! Minh Huệ (BizLIVE)