• Home »
  • Tin Tức »
  • Tái cấu trúc doanh nghiệp tập đoàn nhà nước ngay từ người đứng đầu

Tái cấu trúc doanh nghiệp tập đoàn nhà nước ngay từ người đứng đầu

Tái cấu trúc doanh nghiệp các tập đoàn KTNN vì mục tiêu phát triển của đấtnước, đang và sẽ còn tiếp tục là vấn đề trọng tâm và bức xúc đối vớiViệt Nam.

* Xem thêm Tin Kênh tài chính bất động sản chuyên tư vấn về đầu tư có vốn nước ngoài – kênh tư vấn đầu tư nước ngoài về cách doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chúng tôi có những chuyên viên giỏi và giầu kinh nghiệm tư vấn miễn phí cho bạn về thành lập công ty 100 vốn nước ngoài mà bạn đang vướng phải khi thành lập doanh nghiệp có vố đầu tư nước ngoài 100%.

Những nút thắt

Thời gian qua, bên cạnh những thành công và đóng góp tích cực, cáctập đoàn kinh tế nhà nước (TĐKTNN) của Việt Nam còn nhiều hạn chế, nhấtlà về phương hướng, mô hình hoạt động và hiệu quả đầu tư An ninh pháp luật . Đặc biệt, đếnnay, trong cơ chế quản lý các DNNN nói chung, tập đoàn KTNN nói riêng,vẫn đang tồn tại những “nút thắt” sau:

Thứ nhất, chưa thể chế hóa quản lý nhà nước đối với tập đoàn KTNN

Cho đến nay dường như vẫn còn mù mờ về vai trò của chủ sở hữu hoặcngười đại diện chủ sở hữu; quyền chủ động điều hành sản xuất, kinh doanhcủa tập đoàn với yêu cầu đầu tư của Nhà nước vì lợi ích chung; vai tròvà cơ chế trách nhiệm, quyền lợi của Hội đồng quản trị hoặc Hội đồngthành viên.

Đặc biệt, sự phân cấp quản lý chưa thống nhất và rõ ràng, nhiều tầngnấc, khiến nhiều cấp có thể can thiệp trực tiếp, nhưng lại dễ thoái thácviệc chịu trách nhiệm liên đới vào hoạt động của tập đoàn KTNN hoặc DNthành viên của nó.

Một số tập đoàn KTNN còn được trao chức năng có tính quản lý nhà nướcvề chuyên ngành, dẫn đến “hành chính nhà nước hóa” trong nội bộ tậpđoàn, cũng như mối liên hệ với các DN khác và cả với chính quyền địaphương.

Thứ hai, chưa phân định rõ yêu cầu và cơ chế quản lý giữa hoạt động đầu tư vì lợi nhuận và phi lợi nhuận.

Trên thực tế, trong các tập đoàn đang có sự nhập nhằng giữa nguồn vốnhoạt động vì lợi nhuận với nguồn vốn hoạt động phi lợi nhuận. Tráchnhiệm xã hội của  các tập đoàn KTNN đối với ổn định kinh tế vĩ mô songhành, trùng lặp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh. Điều này dẫn đến đầutư của tập đoàn vừa  bị phân tán, vừa dễ bị lạm dụng, kém hiệu quả.

<img title="tập đoàn kinh tế nhà nước, DNNN, chuyên gia kinh tế, Nguyễn Minh Phong, tái cấu trúc, giám sát nhà nước” alt=”tập đoàn kinh tế nhà nước, DNNN, chuyên gia kinh tế, Nguyễn Minh Phong, tái cấu trúc, giám sát nhà nước” src=”http://imgs.vietnamnet.vn/Images/vnn/2013/08/20/17/20130820171146-tap-doan.jpg” />
Các tập đoàn đang có sự nhập nhằng giữa nguồn vốn hoạt động vì lợi nhuận với nguồn vốn hoạt động phi lợi nhuận.

Thứ ba, chưa có khung pháp lý hoàn chỉnh định hướng táicấu trúc và giám sát hoạt động các tập đoàn. Nhà nước vẫn chưatách bạch rõ ràng chức năng chủ sở hữu và chức năng quản lývề mặt nhà nước đối với các tập đoàn.

Hiện tại chưa có cơ quan nào là đầu mối giám sát và chịutrách nhiệm về kết quả hoạt động của các tập đoàn. Từng tậpđoàn vẫn thực hiện tái cấu trúc và hoạt động theo từng đề án được phêduyệt rời rạc, thiếu hoặc mờ nhạt các liên kết tổng thể….

Thực tế cho thấy, nhiều vấn đề phát sinh trong việc tổ chức, hoạtđộng của DNNN, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến việc thực hiệnquyền chủ sở hữu nhà nước đối với DN còn chịu sự điều chỉnh của các vănbản dưới luật. Trong khi đó, pháp luật về DNNN không còn duy trì đượctính đồng bộ và tính hệ thống.

Tóm lại, khung pháp lý về thí điểm thành lập, tổ chức hoạt động vàquản lý, giám sát TĐKTNN chưa tạo thành một thể thống nhất, đồng bộ;chưa phù hợp với đặc điểm của TĐKTNN và gồm nhiều loại quy định khácnhau.

Nhiều nội dung liên quan đến thành lập, quản lý điều hành, nguyên tắcquản lý giám sát của chủ sở hữu nhà nước chưa được quy định cụ thể,lượng hóa, chi tiết hoặc chưa có hướng dẫn. Đồng thời vẫn có sự không rõràng giữa điều kiện để được thành lập và điều kiện để tồn tại là mộtTĐKTNN trong quá trình hoạt động.

Chưa có quy định về cơ chế tổ chức, phối hợp các đầu mối thực hiệnquyền, nghĩa vụ chủ sở hữu nhà nước; việc quản lý, giám sát của chủ sởhữu và trách nhiệm của các cơ quan liên quan, nên khó có thể phát hiệnnhanh, kịp thời những vấn đề của TĐKTNN để điều chỉnh. Chưa có quy địnhvề giám sát việc thực hiện chức năng chủ sở hữu nhà nước của các cơquan, tổ chức, cá nhân được phân công thực hiện.

Một số TĐKT còn “rủ nhau” cùng thành lập công ty con, đồng thời sởhữu chéo của nhau, tất yếu sẽ hình thành nên những nhóm đặc quyền liênkết với nhau một cách chặt chẽ để tác động trở lại chính sách của cácBộ, ngành. Như vậy, làm cho sự kiểm soát của Nhà nước đối với những tậpđoàn này trở nên vô cùng khó khăn.

Đổi mới tổ chức và hoạt động

Trên tinh thần Nghị quyết  đẩy mạnh tái cơ cấu do Thủ tướng Chính phủđã ký ban hành, cần đổi mới tổ chức và hoạt động của các tập đoàn KTNNtheo hướng sau đây:

Thứ nhất, tiếp tục đẩy mạnh cổ phần hóa, kể cả CPH toàn tổngcông ty. Giảm, thu hẹp tỷ trọng và giảm thiểu số lượng DN mà Nhà nướcgiữ cổ phần chi phối. Chỉ duy trì DN 100% vốn nhà nước trong một số hẹpdanh mục ngành, lĩnh vực mà nhà nước cần độc quyền, giữ vị trí then chốtcủa nền kinh tế…

Dừng việc thành lập các TĐKTNN mang tính hành chính, không phù hợpvới quy luật phát triển DN. Đánh giá, xem xét, sắp xếp lại những tậpđoàn đã thành lập trong các năm qua.

Nghiên cứu sửa đổi ngay những quy định không phù hợp đang cản trở quátrình cổ phần hóa DNNN, trong đó trước hết liên quan đến vấn đề xácđịnh giá trị DN, chọn đối tác chiến lược, bán cổ phần ưu đãi cho ngườilao động, tăng tính xã hội ngay trong công ty cổ phần.

Đồng thời, trong thời gian tới cần ưu tiên  xây dựng các mô hình tậpđoàn kinh tế đa sở hữu, đảm nhận vai trò chủ lực hạn chế trong nền kinhtế, được vận hành theo đúng quy luật và quy trình kinh tế, trên cơ sở sựtự nguyện thoả thuận liên kết, hợp tác giữa các pháp nhân độc lập.

Thứ hai, bãi bỏ hoặc giảm thiểu việc Chính phủ bảo lĩnh tíndụng hoặc cho vay chỉ định đối với DNNN; tạo áp lực buộc tất cả DNNNphải huy động vốn qua cơ chế thị trường. Chính phủ chỉ hỗ trợ tín dụngcho những DNNN hoạt động cung cấp hàng hóa công cộng, mà không thu hútđược các thành phần kinh tế khác đầu tư hoặc thực hiện nhiệm vụ chínhtrị do Chính phủ giao.

Thứ ba, buộc tất cả các tập đoàn và TCT nhà nước phải công bốthông tin hoạt động, nhất là về tài chính như quy định đối với các DNniêm yết trên thị trường chứng khoán.

Trong quá trình tái cấu trúc DNNN, mà trọng tâm là các tập đoàn kinhtế và tổng công ty nhà nước, phải kiên quyết chấm dứt tình trạng đầu tưdàn trải ra ngoài ngành, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh chính (Hội nghịTW 3 yêu cầu hoàn thành trước năm 2015). Cùng với đó, tập trung pháttriển DNNN trong những ngành, lĩnh vực quan trọng có ý nghĩa then chốtcủa nền kinh tế quốc dân, chủ yếu thuộc các chuyên ngành kinh tế, kỹthuật liên quan đến kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, dịch vụ công, ổnđịnh kinh tế vĩ mô.

Nghiên cứu chỉnh sửa giảm tỷ trọng xuống dưới 10%, thậm chí  bãi bỏsớm quy định hiện nay về cho phép DNNN được phép đầu tư “trái ngành” tốiđa 30% tổng nguồn vốn đầu tư.

Thứ tư, tiếp tục hoàn thiện thể chế, cơ chế chính sách về thựchiện chức năng quản lý nhà nước và tổ chức thực hiện quyền, nghĩa vụcủa chủ sở hữu Nhà nước đối với DNNN, đặc biệt là quản lý đầu tư, tàichính, cán bộ, công tác kiểm tra, giám sát và các quy định về cổ phầnhóa, sắp xếp, đổi mới DNNN.

Sớm nghiên cứu  thành lập một cơ quan ngang bộ để thực hiện chức năngđại diện chủ sở hữu (nhà nước) quản lý toàn bộ vốn kinh doanh của nhànước; trên cơ sở đó xóa hoàn toàn cơ chế “chủ quản” hiện nay. Cơ quannày chịu sự giám sát trực tiếp của Quốc hội.

Cần có quy định về mô hình tập đoàn kinh tế tư nhân và tập đoàn kinhtế đa sở hữu, nhằm tạo điều kiện đẩy nhanh quá trình hình thành, pháttriển các nhóm DN tư nhân theo mô hình tập đoàn. Đồng thời, ban hành quyđịnh về tiêu chí sử dụng cụm từ “tập đoàn”, “tổng công ty” trong đặttên DN để tương xứng với quy mô của DN, góp phần làm minh bạch hóa thôngtin của DN.

Thứ năm, khẩn trương xây dựng Luật quản lý vốn Nhà nước hoặcLuật đầu tư công tạo cơ sở pháp lý cần thiết điều chỉnh bằng Luật đốivới các hoạt động đầu tư công, trong đó có đầu tư của các tập đoàn vàDNNN trong 2 dạng hoạt động vì lợi nhuận và phi lợi nhuận.

Cần xây dựng bộ tiêu thức phù hợp và chuẩn hóa để tạo căn cứ lựa chọnvà thông qua các dự án đầu tư, bảo đảm hài hòa các mục tiêu kinh tế -xã hội, môi trường, cũng như các lợi ích quốc gia và địa phương, ngành,cụ thể và dài hạn.

Sử dụng chuyên gia trong nước và nước ngoài có trình độ và khách quannhằm đánh giá, phản biện độc lập các tác động 2 mặt của dự án đầu tưcông lớn. Làm tốt việc này sẽ hạn chế bớt những hoạt động đầu tư cônggắn với lợi ích cục bộ, chủ quan và ngắn hạn của các quan chức.

Đặc biệt, cần có quy định cụ thể hơn về tiêu chuẩn năng lực, quyền vànghĩa vụ, trách nhiệm của người đứng đầu các tập đoàn; hoàn chỉnh vàcông khai cơ chế bổ nhiệm, thay thế lãnh đạo tập đoàn. Tái cơ cấu nhânlực cấp cao của tập đoàn cần được coi như một trong những đột phá thúcđẩy quá trình tái cấu trúc và nâng cao hiệu quả hoạt động của các tậpđoàn trong thời kỳ tới.

Xem Thêm :